TIN AN CO.,LTD

  Trang Chủ

  Giới Thiệu

   Máy Móc - Thiết Bị

   Sản Phẩm

  Tư Vấn Công Nghệ

  Hoạt Động Công Ty

   Liên Hệ

  Đường Đến Cty

 

THÔNG TIN - GIẢI TRÍ

  Web Hay

  Tuyển Dụng

  Cần Mua

  Cần Bán

  Tìm Đối Tác

  Tài Liệu Hay

  Sống Đẹp

  Album Hình

  Nhạc - Video

  Mẹo Vặt

  Tin Tức & Sự Kiện

 

 

Trang 1, 2 , 3, 4

Phút giao thừa thiêng liêng

Gia đình tôi vốn đông anh chị em lại không được khá giả nên chị gái tôi phải bỏ học sớm, nhường lại phần học hành cho anh em tôi.

Năm tôi học lớp 9, chị đã là một thiếu nữ 18, xinh xắn, dịu dàng. Nhiều trai làng để ý đến chị, muốn cưới chị làm vợ nhưng chị nhất mực không chịu. Chị đòi cả nhà cho chị vào miền Nam đi làm công nhân để kiếm tiền nuôi mấy đứa em tôi ăn học nên người.

Mẹ nhìn hoa xuân lòng lại ngóng con về  Ảnh: Trinh Cơ

Chị vào miền Nam hằng tháng gửi tiền về cho mẹ xoay xở công việc nhà cửa, đồng áng và mua tập sách cho anh em tôi. Từ khi tôi vào đại học, gánh nặng lại đè lên chị, nhưng chị vẫn không một lời than vãn, vẫn đều đặn chu cấp tiền cho tôi ăn học bằng chúng bạn. Có chị đi làm, bố mẹ tôi bớt phần lao lực, nhưng một điều mà cả nhà không vui đó là 6 năm chị đi vào miền Nam thì cũng là 6 cái tết chị vắng nhà.

Năm nào cũng vậy, cứ tết đến xuân về mẹ tôi lại gọi điện hối thúc chị về ăn tết với gia đình, nhưng chị nhất mực không nghe. Chị nói số tiền tàu xe, ăn tiêu đi lại cũng hơn cả tháng lương công nhân của chị, chị muốn dành dụm số tiền đó để nuôi em. Mẹ tôi nghe chị nói vậy thì khóc ròng, còn tôi lòng thương chị vô hạn.

Sáu mùa xuân chị không về với bố mẹ, em út, không biết chị đón tết nơi đất khách quê người lòng có được vui không. Lời hứa hẹn về quê ăn tết chị cứ khất lần mãi, cho đến tận năm ngoái, mùa xuân thứ 7 chị xa quê, mẹ tôi đã không chịu đựng được nữa, và có lẽ cả chị cũng không chịu được nỗi nhớ nhà thêm. Chị quyết định về quê trên chuyến tàu cuối cùng của năm. Đêm 30 tết, cả nhà tôi chộn rộn ngóng trông từng giây từng phút chị về.

Tôi thì khấp khởi trang trí lại nhà cửa cho trang hoàng hơn để mong chị thấy nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng mà vui. Mẹ tôi thắp nhang lên bàn thờ, mùi nhang thơm phảng phất, mâm ngũ quả cũng như đang ngóng đợi chị về. Kim đồng hồ cứ nhích dần, nhích dần, báo hiệu thời khắc giao thừa ngày càng gần. Mẹ tôi nôn nóng ra mặt. 23g30, mẹ kêu anh trai tôi chạy xe đến ga tàu để đón chị về.

Anh đi rồi, mẹ tôi liên tục nhìn đồng hồ. Tôi cũng vậy. Trên tivi đang nói rất nhiều về tết, cả nước đang chuẩn bị đón thời khắc thiêng liêng của năm. Giao thừa rất gần, chỉ còn tính được bằng phút bằng giây. Khi đồng hồ điểm đến 0g, sắc pháo hoa nở tưng bừng nơi thành phố thì cũng đúng lúc tiếng xe máy của anh tôi nổ vang nơi cổng ngõ. Bố tôi, mẹ tôi và cả tôi nữa vội vàng hớt hải chạy ra.

Thật bất ngờ, không chỉ có chị mà còn có thêm một người nữa. Gia đình tôi đón chị cùng người con trai lạ vào nhà. Bảy năm không gặp, trông chị rắn rỏi hơn trước rất nhiều, nhưng vẫn giữ được nét duyên đằm thắm, dịu dàng.

Chị giới thiệu anh ấy là người yêu, mai mốt sẽ là con của cả nhà. Thật không ngờ được, bố mẹ tôi lâng lâng vui sướng. Cả nhà tôi quây quần bên nhau, nâng ly rượu hồng để cùng chúc một mùa xuân mới vui tươi và nhiều hạnh phúc…

TRINH CƠ

 

Vở "kịch câm" và chai nước

Chiều. Chạy xe rảo quanh trung tâm thành phố, tôi dừng lại bên khoảng công viên nhỏ đối diện cổng chính nhà thờ Đức Bà, mua trái dừa tươi, chầm chậm tận hưởng vị ngọt của nó và ngắm nhìn thành phố giờ tan tầm.

Ở thành phố này, hình như mọi người đều tất bật, vì vậy muốn tìm được một góc tĩnh lặng giữa lòng thành phố không phải dễ. Đang mơ hồ thả hồn theo dòng suy nghĩ, tôi chợt thấy một chiếc xích lô chạy về hướng mình. Trên chiếc xích-lô là một người bạn nước ngoài trẻ tuổi, chắc cũng là một sinh viên như tôi. Trông chàng thanh niên này có dáng điệu rất “Tây”, mái tóc dài được cột lại gọn gàng, tai đeo khuyên, mặc quần soọc ngắn đến gối.

Xe dừng, người thanh niên ngoại quốc xuống xe và chạy về phía hàng bán nước ngay trước mặt tôi. Anh chỉ vào chai nước suối và giơ hai ngón tay. Cô bán hàng bỏ hai chai nước khoáng vào túi xốp đưa cho người thanh niên và nhận tờ 50 ngàn từ anh. Thấy không có dấu hiệu cho thấy cô bán hàng đang tìm tiền thối đưa cho mình, người thanh niên đứng yên không chịu đi.

Người phụ nữ bán hàng dường như cũng hiểu ý anh, cô hằn học rút trong túi ra tờ 10 ngàn đưa cho anh. Người thanh niên vẫn tiếp tục nhìn cô trong chốc lát rồi mới quay trở lại xe. Anh đưa một chai nước khoáng cho bác chạy xích lô đang nhễ nhại mồ hôi đứng chờ mình bên đường… Chai nước có lẽ có giá trị bằng cả buổi chiều chạy xe vất vả của bác…

Quá đủ cho một buổi chiều… Tôi tưởng như mình vừa được xem một vở kịch câm. Không có lời thoại nào vì tất cả nhân vật trong vở kịch này đều không hiểu ngôn ngữ của nhau. Người thanh niên ngoại quốc kia đã đồng cảm và chia sẻ với nỗi mệt nhọc của bác chạy xe xích lô - một người hoàn toàn xa lạ và không hiểu ngôn ngữ của anh. Còn cô bán nước, cô đã lấy lòng mến khách của người Việt chúng ta ra để chào đón một người bạn phương xa thế ư?

Chiếc xích lô chở người thanh niên ngoại quốc lại tiếp tục hòa vào dòng người đang hối hả, hối hả nối đuôi nhau…
 

My Hanh

---------

"Con còn nợ một lời xin lỗi"

- Bây giờ, kinh tế gia đình đã khá hơn trước. Mẹ tôi không còn phải đi buôn cá nữa. Nhưng mỗi lần nhắc lại “ngày xưa” ấy, tôi không khỏi chạnh lòng và ân hận. Tôi vẫn còn nợ mẹ một lời xin lỗi…

Ngày ấy, nhà tôi nghèo lắm, năm nhân khẩu mà chỉ trông chờ vào tám sào ruộng khoán chân đê. Vụ được mùa cũng chỉ có 1 tạ/sào. Năm nào đến tháng giáp hạt, mẹ đều phải chạy ăn từng bữa nhưng vẫn thiếu.

Nhà tôi ở ven biển nhưng vì không có vốn đóng thuyền to để đi đánh bắt hải sản như nhiều nhà khác trong làng, bố tôi chỉ đi phụ cho các chủ thuyền. Đi biển nên thu nhập rất bấp bênh. Trời mưa thuận gió hòa thì không sao, những hôm biển động, thuyền không ra khơi được, cả nhà phải chịu ăn cơm với muối mà vẫn đói.

Rồi bố mẹ bàn với nhau rằng mẹ sẽ đi buôn cá từ các chủ thuyền trong làng. Vốn liếng của mẹ là đôi bông tai bà ngoại mua cho mẹ ngày cưới, mẹ cất kỹ trong rương phòng khi dùng đến. Nhiều lần chị em tôi ốm, trong nhà không có tiền, mẹ định bán đi nhưng bố ngăn lại vì  đó là của hồi môn của mẹ, vả lại bố mẹ vẫn có thể xoay xở được. Bây giờ thì cả bố và mẹ đều cần dùng đến đôi bông tai.

Mẹ mua đồ nghề là những mẹt, những thúng, rồi thùng nhựa, ghế nhựa lỉnh kỉnh. Chiếc xe đạp cũng được bố mang ra cửa hàng nhờ người ta tân trang cho chắc chắn.

Vì mới vào nghề nên mối hàng của mẹ chưa nhiều, chỉ là những nhà người quen, họ hàng thân thích, vì nể nên họ nhường bán cho mẹ. Dù vậy, sáng nào mẹ cũng phải lụi cụi dậy từ 3g-4g sáng để chuẩn bị đồ nghề kịp ra bãi đón thuyền về. Nếu chậm hơn, các chủ thuyền sẽ đổ hàng cho các “con buôn” khác để còn kịp tiếp tục ra khơi, mẹ sẽ không lấy được hàng.

Từ ngày mẹ đi buôn cá, bố còn lênh đênh trên những chuyến thuyền ra khơi, chị em tôi đã tự biết chăm sóc lẫn nhau. Tôi là chị cả nên sớm biết nấu cơm, giặt giũ, trông em và kèm em học mỗi buổi tối để mẹ có thời gian đi chợ và làm những việc nặng nhọc hơn. Từ ngày đó, bữa cơm của cả nhà được cải thiện dần. Mỗi buổi chợ, bao giờ mẹ cũng dành ra mớ cá biển hay mớ tép trắng (chỉ ở biển mới có) về nấu canh chua hay rang lên ăn dần. Bữa cơm tuy đạm bạc nhưng đầy đủ hơn trước.

Tôi còn nhớ lần đó tôi đang học lớp 5. Vốn có khiếu ca hát nên tôi được chọn vào đội văn nghệ của trường cùng ba bạn khác đi thi Tiếng hát hoa phượng đỏ cấp huyện. Buổi sáng hôm diễn ra buổi thi ở thị trấn, vì nhà xa trường nên tôi phải đi sớm cho kịp giờ tập trung đội văn nghệ để các thầy cô chở đi. 

Tôi không kịp ăn cơm với cá kho mẹ đã chuẩn bị trước khi đi chợ. Khoảng 9g sáng, sau khi chúng tôi vừa thi xong phần thi đơn ca, đội văn nghệ của trường đang tập trung ở một khu trống trong hội trường để chuẩn bị cho phần thi tập thể. Vừa lúc ấy, tôi thấy mẹ đang ngó nghiêng ở cổng hội trường. Rồi như nhìn thấy chúng tôi, mẹ tiến nhanh lại, trên tay là mấy cái bánh nếp bọc lá chuối khô - món mà tôi thích nhất. Mấy đứa bạn tôi cũng quay ra.

“Ôi, mẹ Thủy kìa!”. Các bạn học sinh trường khác đứng ngay cạnh cũng quay sang, tò mò. Nhìn dáng mẹ tất tả, cái khăn bông mẹ bịt mặt buông thõng xuống cổ, chiếc quần còn dính đầy vẩy cả, mặt tôi chợt nóng bừng vì xầu hổ. Mẹ đưa gói bánh cho tôi: “Sáng nay con không ăn. Mẹ mua cho con và các bạn đây”. Tôi không đưa tay ra nhận gói quà của mẹ.

Mấy đứa bạn tôi thì vẫn vô tư “xin bác” rối rít rồi cầm bánh chia cho tôi. Tôi lẳng lặng không nói gì. Lúc đó, chẳng hiểu sao tôi lại thấy giận mẹ đến thế. Tại sao mẹ lại vào đây? Sao mẹ không ngồi ở chợ bán nốt hàng mà phải nhờ người trông hộ? Trước đây tôi vẫn không ăn sáng, nhịn một bữa có sao nào? Sao mẹ lại không biết điều này? Nước mắt tôi trào ra. Mẹ nhìn tôi, thoáng chút ngạc nhiên, khó hiểu. Rồi mẹ vội quay đi. Đến lượt các bạn tôi đứng ngây ra, ngơ ngác. Chúng không còn cười nói vô tư như hồi nãy.

Về nhà, tôi giận mẹ và vẫn không nói gì. Mẹ cũng không hỏi về kết quả thi của tôi. Tối đó, tôi đã khóc. Tôi không rõ lý do vì sao. Vì tôi vẫn còn ấm ức với chuyện lúc sáng? Hay vì tôi đã nhận ra mình có lỗi với mẹ? Tôi không rõ. Đêm đó, tôi chợt giật mình vì có tiếng nấc thổn thức. Tôi choàng tỉnh.

Ánh trăng non đầu tháng mờ mờ chiếu qua khung cửa sổ. Tôi nhìn sang bên cạnh, hai đứa em trai đang ngon giấc, không thấy mẹ đâu. Hoảng hốt, tôi nhỏm người. Ôi, mẹ tôi đang ngồi ngay bậc cửa. Đầu mẹ nghiêng dựa vào cửa, đôi vai rung lên từng hồi. Mẹ tôi đang khóc. Tôi đã làm mẹ buồn?! Sống mũi tôi cay xè, cổ họng nghẹn đắng, mắt tôi nhòe đi. Tôi không dám đến gần bên mẹ… Lần đầu tiên, một con bé lớp 5 là tôi đã biết ân hận khi làm mẹ buồn.

Rồi mọi chuyện qua đi. Chị em tôi lớn dần. Nhiều lần, chúng tôi cũng đã mắc lỗi với mẹ và vẫn được mẹ tha thứ, nhưng với tôi câu chuyện hôm đó sẽ còn ám ảnh mãi…

Bây giờ, kinh tế gia đình đã khá hơn trước rất nhiều. Mẹ tôi không còn đi buôn cá từ năm năm nay. Dù không nói ra song cả bố và ba chị em tôi đều hiểu: có được như vậy một phần lớn nhờ tài xoay xở buôn bán của mẹ.

Đối với riêng tôi, kỷ niệm buồn hơn chục năm về trước vẫn còn đó. Nó như một lời nhắc nhở để tôi biết sống tốt hơn, không bao giờ để bố và mẹ phải phiền lòng. “Mẹ ơi, con vẫn còn nợ mẹ một lời xin lỗi. Nhưng xin mẹ hãy để con nói điều ấy bằng chính những việc con làm cho gia đình, cho bố mẹ, mẹ nhé!”.

VŨ THỊ THANH THỦY (Hà Nội )

 

 

Hai người và một câu chuyện ẩn danh

Câu chuyện giản đơn nhưng đầy nghĩa cử giữa một vị luật sư và một chàng sinh viên (SV) trường luật gặp nghịch cảnh.

Ba năm trời họ luôn song hành, nhưng không hề biết mặt nhau và thầm lặng gieo một niềm tin yêu và hi vọng giữa cuộc đời.

Câu chuyện người SV

Người SV tên là Ngô Văn Khôi, quê ở Tam Kỳ, Quảng Nam. Anh học Trường ĐH Luật TP.HCM niên khóa 2003-2006. Một ngày chuẩn bị vào hè của năm 2, Khôi và người em trai đột ngột nhận được một lời nhắn từ quê nhà: “Ở nhà có người bị tai nạn, hai anh em về gấp”. Vậy là bỏ dở môn thi còn lại, hai anh em tức tốc lên xe đò trở về thị xã Tam Kỳ. Nhưng mọi việc đều đã muộn, người cha thân yêu của hai anh em Khôi đã ra đi về với cát bụi.

Tai nạn trong khi làm phụ hồ của người cha đã làm mịt mù con đường học hành của những đứa con. Khôi định bỏ học ở nhà phụ mẹ làm mướn nuôi em, nhưng cứ đêm đêm hình bóng cha lại quay về với lời dặn dò ngày Khôi lên xe đò vào Sài Gòn nhập học: “Bằng mọi cách phải xong đại học nghe con...”.

Khôi và ân nhân của mình - luật sư Trần Mỹ Thoa, lần đầu tiên gặp mặt sau ba năm - Ảnh: B.P.

Khôi muốn gửi một lời tâm sự với người cha đã về bên kia thế giới bằng cách viết một bức thư gửi cho một tờ báo. Bức thư được chọn đăng báo. Trong nhiều bạn đọc gửi thư sẻ chia cùng chàng SV trẻ có một cuộc điện thoại của một nữ luật sư. Bà bảo muốn được cấp một học bổng hằng tháng trong suốt các năm học còn lại cho chàng SV trường luật chỉ với một điều kiện: tuyệt đối không được nêu danh tánh. Và câu chuyện bắt đầu: hằng tháng Khôi bất ngờ nhận học bổng mà không hề biết chủ nhân của học bổng là ai. Ba năm học trôi qua, anh rất nhiều lần tìm gặp người đại diện trao học bổng để hỏi thăm, tìm gặp vị ân nhân... Nhưng tất cả đều: “À, chỉ là một mạnh thường quân muốn lo cho SV nghèo ấy mà; họ không để lại địa chỉ...”.

Cho đến khi Khôi tốt nghiệp đại học. Trước khi rời khỏi Sài Gòn về quê làm việc, Khôi có một đề nghị tha thiết với người đại diện trao học bổng là anh có nguyện vọng muốn gặp được người giúp đỡ mình trước khi chuyển sang một bước ngoặt khác của cuộc đời. Lời khẩn thiết này cuối cùng cũng có kết quả : một lịch hẹn sau ba năm trời không biết mặt nhau đã diễn ra...

Câu chuyện nữ luật sư

“Cách đây ba năm, tôi đã muốn khóc khi đọc thư của Khôi trên báo. Tôi quyết định mình sẽ làm một việc gì đó cho em. Khi thực hiện tôi ra điều kiện: đừng cho em biết và không được đăng báo. Suốt ba năm không gặp mặt, nhưng tôi vẫn luôn theo dõi chuyện học hành của Khôi...” - luật sư Trần Mỹ Thoa, người trao học bổng cho Khôi, tâm sự.

Đó là một buổi sáng, sau ba năm cuộc gặp gỡ giữa Khôi và ân nhân mới diễn ra: “Nhìn Khôi, tôi thấy đó là một sự sáng sủa, đặc biệt gương mặt lại có nét của một sự đôn hậu, chân tình. Em đưa cho tôi một bức thư với lời hứa rằng: Con sẽ không bao giờ quên ơn cô và nguyện sẽ làm bất cứ điều gì để giúp đỡ những người khác trong cuộc sống này như lời cô dặn”. Chị Thoa ôm Khôi vào lòng như tình một người mẹ và nói: “Xin đừng nói lời cảm ơn mà hãy nghĩ về cuộc đời như một dòng chảy bất tận chung quanh mình, như một sự tiếp nối, trên đường em đi nếu có thể làm được điều gì giúp cho ai đó, xin hãy làm để cho dòng chảy tiếp diễn qui luật bất tận của nó”.

Trong buổi gặp mặt, luật sư Thoa nhắn gửi Khôi rằng: “Nếu con chọn con đường làm một viên chức nhà nước, con phải giữ mình trong sạch. Nếu chọn con đường làm luật sư thì lắm sóng gió, con phải giữ được sự thanh liêm, đạo đức và lòng thương người của mình”.

Hiện giờ Khôi đang giảng dạy ở Trường cao đẳng Kinh tế đối ngoại tỉnh Quảng Nam. Câu chuyện của luật sư Thoa đã ẩn mãi trong tâm hồn Khôi: “Tôi không thể tưởng tượng được trong cuộc sống này có một người ẩn danh hỗ trợ mình suốt ba năm trời mà mình không hề biết một tí gì về họ. Mỗi lần nản lòng, tôi luôn lấy chuyện của cô Thoa làm động lực vươn lên. Tôi chọn nghề giáo, cũng là một phần vì tôi học được bài học lớn từ cô Thoa: âm thầm giúp những người trẻ tuổi đi sau mình...”. Còn luật sư Thoa vẫn tiếp tục công việc của mình. Trong câu chuyện riêng tư, chị thỉnh thoảng lại nhắc hình ảnh một cô nữ SV quê miền Trung, mồ côi mẹ. Hằng ngày trong cặp cô SV này có thêm một bộ đồ bởi sau giờ học, cô thay bộ đồ khác và đi làm “oshin”...

Tôi đã theo câu chuyện của Khôi suốt ba năm trời và tôi tin một câu chuyện ẩn danh khác đang bắt đầu tiếp diễn...

-----

Lưu Bình - Dương Lễ thời nay - Kỳ 5: Tri kỷ từ tuổi lên mười

TT - Mới mười tuổi, vừa qua lớp 5, cậu học sinh bé bỏng ấy đã biết khóc khi thấy bạn đứng ngoài nhìn vô vì không đủ tiền góp vào bữa tiệc của lớp. Nhiều đêm trong giấc ngủ non dại của cậu bé cứ chập chờn hình ảnh người bạn nghèo khó nấp sau gốc bàng nhà trường với ánh mắt buồn. Và cậu đã đánh liều nhờ mẹ đưa bạn về nhà.

Từ đó, cả hai cùng sống chung dưới một mái nhà như anh em ruột thịt. Đó là câu chuyện của hai người bạn Huỳnh Hữu Tùng Nhân và Thái Văn Duy ở Trường THPT Tân Châu (huyện Tân Châu, An Giang).

“Chỉ vì con thương bạn con!”

Khi hỏi tại sao Nhân muốn mẹ đưa bạn về nhà, Nhân nói: “Chỉ vì con thương bạn con!”. Từ nhỏ, Nhân và Duy học cùng khóa nhưng khác lớp. Cả hai kết thân với nhau sau một lần tình cờ Nhân đến nhà bạn chơi, cùng sở thích là bóng đá nên cả hai ngày càng thân hơn. Cho đến một hôm... Nhân kể: “Hôm đó khóa học của con tổ chức cắm trại, mỗi bạn phải đóng 10.000 đồng để ăn uống. Đến giờ ăn không thấy Duy đâu, con đi tìm thấy bạn đứng khóc sau gốc bàng giữa sân trường. Gặng hỏi Duy mới nói thật là không có tiền đóng nên không có phần ăn. Thương bạn, con quay vô sớt đôi phần ăn của con mang ra gốc bàng cùng ăn với bạn”.

Từ đó, Nhân và Duy gần gũi nhau hơn và thường nói chuyện về gia đình. Nhà Duy ở khá xa trung tâm thị trấn, đường đến lớp phải lội bộ một quãng dài. Bố mẹ Duy chẳng có ruộng vườn gì cả, chỉ sống nhờ vào nghề gặt lúa thuê, làm công quanh vùng. Năm Duy học lớp 5 cũng là lúc mẹ em qua đời do căn bệnh ung thư, nhà đã nghèo lại thêm cái ngặt quàng vào cổ. Hiểu được hoàn cảnh của bạn, thi thoảng Nhân về nhà Duy chơi và phụ việc nhà cùng bạn. Nhưng hình ảnh người bạn lam lũ và ánh mắt buồn của Duy nấp sau cây bàng vẫn đọng lại trong những giấc ngủ của Nhân.

Chị Tú, mẹ Nhân, nhớ lại: “Suốt mấy tuần liền thấy thằng nhỏ mắt thâm quầng tôi lo lắng hết sức. Đưa đi khám thì chẳng có bệnh gì, gặng hỏi cũng nói không có chuyện gì. Nhưng có một điều lạ là sáng nào cũng cho tiền ăn sáng nhưng vừa đi học về là cháu kêu đói liền. Sinh nghi, sợ con học đòi ăn chơi hư hỏng nên tôi cất công theo dõi, thì ra sáng nào hai đứa cũng chia đôi nắm xôi trước khi vào lớp. Biết chuyện, tôi vẫn im lặng chờ phản ứng của thằng bé”.

Cho đến một hôm, chị Tú nghe Nhân gọi: “Mẹ ơi, con nói với mẹ chuyện này, được hay không được mẹ cũng đừng la con”. Sau một hồi vò đầu bứt tóc, Nhân mới dám nói thật với mẹ: “Lớp con có một bạn nghèo dữ lắm! Khổ dữ lắm! Mẹ tìm cách giúp bạn ấy đi mẹ. Hay là mẹ đưa bạn ấy về nhà mình ở”. Chị Tú sững người trước đề nghị của Nhân, nhưng hằng ngày chị đã dạy bảo con những lời hay lẽ phải, không lẽ bây giờ lại làm ngược.

Chị lưỡng lự: “Ừ, để mẹ xem!”. Lại thêm mấy đêm nữa Nhân không ngủ, em kể với vẻ ngượng ngùng: “Con sợ mẹ không giúp bạn con. Mà không giúp thì làm sao bạn con đi học được. Lúc đó con tính nếu mẹ không giúp thì kêu gọi bạn bè trong lớp nhịn tiền ăn sáng để góp vào giúp bạn ấy đến lớp”. Đó là năm Nhân mới tròn 10 tuổi.

Chung một mái nhà

 

Không thể từ chối lời đề nghị của Nhân, chị Tú định ngày cùng con về nhà Duy để tìm hiểu. Chị kể: “Thấy tôi mua ít quà bánh khi đi thăm Duy, Nhân vui ra mặt. Nó còn gom luôn mấy bộ đồ mang theo cho bạn. Đường về nhà Duy mùa nước nổi mênh mông nước, những lúc xe tắt máy Nhân lại hào hứng nhảy xuống đẩy phụ mẹ. Lâu lâu lại chạy trước dẫn đường, luôn động viên: Cố lên nha mẹ! Cố lên nha mẹ! Nhà bạn con gần đây rồi”.

Bây giờ nghe mẹ kể lại những chuyện cách đây hơn năm năm, Nhân và Duy nhìn nhau cười bẽn lẽn rồi bỏ ra ngoài. Chị Tú kể tiếp: “Lúc đầu tui tính giúp đỡ cháu Duy tiền học và thêm chút đỉnh tiền ăn sáng. Lương công chức chẳng đáng là bao, nuôi một đứa đã thấy bở hơi tai chứ nói gì cưu mang thêm ai. Nhưng rồi Nhân lại cứ rỉ tai: Bạn ấy ăn khổ dữ lắm mẹ ạ, chỉ có rau và muối thôi. Mẹ cứ đưa bạn ấy về nhà đi, phần ăn của con chia đôi cũng được”. Thấy Nhân thương bạn, vợ chồng chị Tú quyết định xin cha Duy đưa em về nhà ở cùng.

Từ đó đến nay cả hai như anh em một nhà. Có một điều lạ là anh em cùng trang lứa thì hay cãi nhau, đánh nhau, nhưng với Nhân và Duy, điều đó chẳng bao giờ xảy ra. Những lúc gia đình tổ chức đi chơi, chị Tú thường thử con bằng cách nói không cho Duy đi cùng. Mỗi lần như thế Nhân lại phản ứng: “Nếu Duy không đi con cũng không đi!”. Lỡ một trong hai đứa bị bệnh thì đứa còn lại lo chép bài hay giảng lại bài cho bạn, chẳng ai chịu rời ai nửa bước.

Năm nay cả hai bắt đầu bước vào lớp 10, đã năm năm sống chung dưới một mái nhà. Hỏi lại chuyện cũ, cậu bé Nhân hôm nào nay đã “trổ giò” ở cái tuổi 16 vẫn dứt khoát: “Nếu bây giờ mới gặp Duy, con vẫn muốn tìm cách giúp bạn ấy! Vì con thương bạn, con muốn chia sẻ với bạn ấy chứ không phải thương hại”.

Có một điều rất vui là suốt những năm qua cả hai đều là học sinh giỏi và khá của trường. Khi hỏi về ước mơ, Nhân nhanh nhảu đáp: “Con muốn thành kỹ sư để được đi đây đi đó”. Còn Duy có lựa chọn riêng: “Con sẽ làm giáo viên để dạy các em nghèo ở quê con. Với lại bạn Nhân thích đi xa, con sẽ làm việc ở quê để lo cho ba con và ba mẹ Nhân nữa”. Nghe những gì Nhân và Duy tâm sự, mấy ai nghĩ rằng đó là lời của những đứa bạn trẻ con.

Đây là những vần thơ mà Nhân và Duy rất thích, cũng là điều các em thầm hứa với nhau:

Nếu ngày mai tớ trở thành người nổi tiếng,
Gặp tớ giữa đường bạn đừng ngại tớ nghe.
Cứ nhìn tớ như ngày xưa bạn thấy,
Đừng nên nghĩ tớ quá xa vời.
Nếu một ngày tớ là kẻ ăn xin,
Thì bố thí cho tớ vài kỷ niệm.
Dù rất nhỏ nhưng đừng nên khinh tớ,
Vì tớ vẫn là tớ của ngày xưa.

Nếu ngày mai tớ chẳng biết đường về, 
Hãy chỉ giùm tớ con đường đi đúng đắn. 
Đừng để tớ sa chân nơi bùn nhớp, 
Lúc rút chân lên thì đã bẩn mất rồi. 
Nếu ngày mai tớ gặp bạn giữa đường, 
Thì ta sẽ gặp nhau và cười nhé. 
Đừng nên trách và đừng nên đánh mất, 
Cả một thời hai đứa bạn bè thân.

 

Ân nhân lạ của Mười Triệu

TTCT - Trên điện thoại là giọng của một thanh niên nhỏ nhẹ, khiêm nhường: “... xin lỗi vì đã làm phiền anh. Xin anh giúp tôi nối liên lạc với chú Mười Triệu bằng điện thoại. Tôi muốn nói chuyện với chú ấy. Ngày nào cũng được, miễn là sau 10 giờ sáng. Tôi tên D.”. Đó là khởi đầu câu chuyện nhân ái đầy cảm kích mà tôi đã may mắn chứng kiến từ đầu.

Mười Triệu là một trong những nhân vật trong loạt bài “Đi học ở miền Tây” mà nhật báo Tuổi Trẻ đã khởi đăng từ hôm 24 đến 28-8-2008. Vợ chồng người nông dân này có ba con gái xinh xắn, thông minh và học giỏi, nhưng hai đứa phải lần lượt bỏ học ở tuổi 13, 14 vì nghèo. Con gái út của Mười Triệu là Phan Mộng Như năm nay 11 tuổi cũng đang trong nguy cơ rời xa ghế nhà trường.

Nhiều độc giả động lòng, gửi áo quần, sách vở hỗ trợ Mười Triệu và trẻ con cùng xóm anh (ấp 19, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, Cà Mau). Chỉ riêng D. là xin được nói chuyện với Mười Triệu, một yêu cầu có vẻ chẳng ý nghĩa gì.

Lời hứa... khói mây

Thứ sáu (29-8-2008), tôi trở lại nhà Mười Triệu. Nắng vàng chiếu sáng một góc rừng tràm U Minh Hạ, khói bếp nhà ai bay lãng đãng như mây. Mười Triệu đưa hai bàn tay bám đầy bụi than đen đúa quệt vào quần, cười tươi tắn: “Con Như đi học rồi. Cũng nhờ các anh động viên nên tôi gắng. Tội nghiệp, hôm tôi mua bộ sách về cho con bé, nó bỏ ăn cơm chiều để nắn nót bao bìa, dán nhãn cho bộ sách mới. Con bé lạ kỳ, nó thích cái mùi giấy mới, cuốn nào cũng giở ra hửi hết trơn!”.

Khi nghe chúng tôi báo tin trong vài ngày nữa sẽ có đoàn người từ TP.HCM đến đây để hỗ trợ sách vở, áo quần cho học sinh nghèo, vợ chồng Mười Triệu mừng ra mặt. Bé Mộng Cầm (con gái thứ ba của Mười Triệu) lắc vai mẹ nài nỉ: “Nếu con được cho sách vở, mẹ cho con đi học lại nghe mẹ!”. Chị Mười giả lả “chưa hứa, từ từ tính”. Mộng Cầm đã nghỉ học từ hai năm trước ở đầu lớp 5 chỉ vì không có sách vở. Những ngày đầu nghỉ học, bé đã khóc và bỏ ăn mấy ngày liền, đến bị mẹ đánh đòn mới chịu ra khỏi buồng ngủ ăn tí cháo.

Tôi gọi điện cho anh D. để D. nói chuyện với Mười Triệu. Không biết họ nói với nhau những gì, nhưng khi trả điện thoại lại cho tôi, mặt Mười Triệu trở nên ngờ nghệch, miệng há hốc. Rất lâu anh mới nói ra lời: “Ông ấy bảo sẽ cho tôi 15 triệu đồng để làm ăn”. Mặt chị Mười cũng biến sắc, giọng run run: “Ông nói sao? Ai cho tiền mình?”. Mười Triệu đáp: “Cái ông trong điện thoại, tôi có biết ai đâu”. Điện thoại tôi reo. Là D. gọi. Cũng cái giọng khiêm nhường, không chút “lửa”, D. nói: “Anh đã làm ơn thì làm ơn cho trót. Thứ hai này anh giúp tôi dẫn chú Mười Triệu lên ngã ba Trung Lương, Tiền Giang. Tôi có một ít tiền dành dụm bấy lâu, muốn cho chú ấy làm ăn để nuôi các cháu học hành”.

Chiều chủ nhật (31-8-2008), Mười Triệu rời U Minh ra TP Cà Mau. Chỉ cách có hai ngày đêm mà trông anh già thêm vài tuổi, mái tóc bạc trắng hơn. Anh thú thật hai đêm qua thức trắng vì lời hứa tựa mây khói của D.. Bởi anh không tin trên thế gian này có người đem tiền cho không người khác. Anh không tin rồi mình sẽ có được 15 triệu đồng. Anh tên là Mười Triệu nhưng đến tận hôm nay, đã 40 tuổi đời mà chưa bao giờ anh được nhìn thấy (chứ đừng nói là sở hữu) số tiền cỡ tên mình. Một lý do khác khiến anh thức trắng là sợ bị gạt.

Vợ anh cười nắc nẻ bảo: “Người ta gạt để lấy cái quần cụt nhăn nhúm của ông hay sao!”. Anh vẫn ngờ ngợ rồi sáng ra đi hỏi ông Ba Bình hàng xóm. Ông Ba nghe hỏi, trầm ngâm rất lâu mới kết luận “coi chừng họ dụ mày lên trển để bắt cóc bán vào lầu son...”. Và không ai tìm ra được lý do để người tên D. gạt Mười Triệu nên bà con bèn góp tiền được 300.000 đồng cho Mười Triệu làm lộ phí

Đối diện ân nhân

Từ 5 giờ sáng, chúng tôi khởi hành từ Cà Mau đi Tiền Giang. Suốt bảy giờ ngồi xe đò, hình như Mười Triệu không nháy mắt. Lúc nào anh cũng say mê ngắm cảnh, thỉnh thoảng lại há hốc mồm vì những điều mới lạ mà đã hơn nửa đời người anh mới được nhìn thấy lần đầu. Đó là xe cộ đông đúc, chợ búa sầm uất, những nhà máy công nghiệp, phà Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận, những quán cơm đông khách...

Tại một quán cơm cặp quốc lộ 1A thuộc tỉnh Sóc Trăng, anh quên ăn để nhìn khách. Đến khi xe nổ máy thì anh mới sực nhớ mình chưa đi tiểu. Lúc anh vào nhà vệ sinh, ông chủ quán cơm thấy cái nón kết của anh bỏ quên đã đem ra xe đưa cho bác tài. Khi trở vào, thấy mất nón anh la toáng lên như người ta bị mất vàng. Hành khách nhìn cái nón kết cả “chục tuổi” của anh chỉ biết lắc đầu.

D. xuất hiện sau hơn nửa giờ tôi và Mười Triệu ngồi chờ ở một quán nước bên đường gần ngã ba Trung Lương (Tiền Giang). Ăn mặc bình dị, phong cách khiêm tốn, D. ngồi quán cóc trò chuyện với chúng tôi. Sau một lúc ngỡ ngàng nhìn D. trân trân từ đầu đến chân, Mười Triệu mới lột cái nón kết trên đầu xuống. “Chú lột nón trông mới giống hình đã đăng trên báo” - D. nói.

D. không hỏi thăm nhiều về hoàn cảnh của Mười Triệu, mà anh chỉ kể về mình. D. bảo mình ra đời làm ăn rất sớm, lúc mới 15 tuổi. Sau bao thăng trầm, nay D. đã tạm ổn định với một cơ sở kinh doanh dịch vụ tại TP Mỹ Tho. “Từ gần ba năm qua, kể từ ngày dựng cơ sở kinh doanh dịch vụ, tôi chỉ không làm việc đúng vào ngày mồng 1 Tết Nguyên đán, còn lại 364 ngày trong năm đều phải làm việc từ 4 giờ sáng đến 1 giờ khuya...” - D. nói.

Mười Triệu lại há hốc mồm như lúc ngồi trên xe đò xem cảnh vật lạ. Hình như anh đang nuốt từng lời của D.. D. quay sang Mười Triệu, cười hiền: “Mình chí thú làm ăn, làm hết mình, làm quyết liệt thế nào thì trời cũng thương thôi chú Mười! Đây, con gửi chú ít tiền làm vốn. Chú gắng cho các em học, ít chữ như cháu cực hơn trâu!”. Tay Mười Triệu run rẩy khi nhận cục tiền 15 triệu đồng từ D.. Anh xúc động nghẹn lời đến không nói được từ cảm ơn.

Trước khi lên xe máy hòa vào dòng người đông đúc trên quốc lộ, D. nói: “Việc này chỉ ba chúng ta biết thôi nghen. Vì đây là khoản dành dụm riêng của em, mấy ông cán bộ hay gọi là quỹ đen đó. Vợ em cũng rộng lượng lắm, nhưng bả là đàn bà, khác chúng ta. Sợ bả biết bả cằn nhằn mất công. Thôi, chú và anh về khỏe! Mai mốt có gì khó khăn chú Mười cứ gọi cho con”.

Trên đường trở về Cà Mau, Mười Triệu không ngớt lời nhắc về D.. Anh nhớ sâu sắc câu chuyện mà D. kể về cái lần đụng phải một khách hàng khó tính. “D. trẻ mà quá giỏi, kiên trì dữ dằn, hèn chi giàu. Tôi mà bị khách hàng chửi như D. kể chắc tôi chửi lại”. Anh có nhớ rõ câu chuyện D. kể không? - tôi hỏi.

Mười Triệu trợn mắt khẳng định: “Sao không. Tôi kể lại cho nghe nghen”. Không cần tôi có nghe hay không, Mười Triệu vẫn kể. Đúng là anh nhớ không sót một chi tiết nào. Câu chuyện ấy như sau: Một khách hàng khó tính đã mắng D. vì D. cung cấp dịch vụ không như ý mình. D. xin lỗi nhưng vị khách vẫn cứ mắng, mắng đến độ D. rớt nước mắt mới thôi.

Nhưng sau đó, chính vị khách ấy đã tìm đến D. xin lỗi vì những lời mắng nhiếc quá đáng của mình. Ông cũng bày tỏ lòng thán phục D. về tính nhẫn nại và có trách nhiệm với khách hàng. Và ông đã trở thành khách hàng lớn của D. đến ngày nay. “Gặp D. có một chút mà như đi học khôn mấy năm trời. Tôi đã học được từ D. nhiều điều hay. Tôi sẽ kể cho vợ con nghe về D.” - Mười Triệu xúc động nói.

NHƯ Ý

Cập nhật :17/09/08

 

Món quà của tình yêu

Chưa hề có ai, kể cả thi sĩ, có thể đo lường được sức chứa của trái tim

TTO -Cho tôi xem cháu một chút được không? - Người mẹ trẻ hạnh phúc hỏi. Khi cái gói nhỏ xinh xắn nằm gọn trong tay mình, người mẹ vén miếng vải để xem khuôn mặt bé xíu kia ra sao, bỗng cô há hốc vì kinh ngạc. Người bác sĩ vội quay đi và nhìn ra cửa sổ. Đứa bé con cô không có đôi tai.

Thời gian trôi qua, đứa bé ấy lớn lên và vẫn có khả năng nghe bình thường, chỉ có điều cơ thể cậu có một thiếu sót...

Rồi một hôm, đứa bé chạy vội từ trường về nhà, gục đầu vào lòng mẹ mình khóc nức nở. Trông cậu thảm thương làm sao! Và cậu tự thốt ra bi kịch của mình:

- Con là... một con quái vật!

Người mẹ hiểu rằng cuộc đời con trai mình bắt đầu phải trải qua nhiều lần cay đắng như thế.

Cậu bé lớn lên càng lúc càng tuấn tú và khỏe mạnh, như thể tạo hóa muốn bù lại nỗi bất hạnh của cậu. Bao bạn bè quý mến cậu. Đáng lẽ cậu được chọn làm lớp trưởng nếu như cậu không bị khiếm khuyết hình thể duy nhất ấy. Cậu lại rất giỏi văn chương và âm nhạc, đáng lẽ cậu có thể tiến xa, nếu như...

- Nhưng con vẫn có thể hòa nhập với người khác được mà - Người mẹ trách nhẹ khi thấy cậu buồn tủi, nhưng tim bà cũng đau xót chẳng khác gì cậu. Bà thương con biết bao!

- Chẳng lẽ không có cách nào khác để giúp con tôi sao? - Người cha hỏi vị bác sĩ của gia đình.

- Tôi tin rằng tôi có thể phẫu thuật ghép vành tai nếu như có người hiến tặng - Ông ta đáp.

Thế rồi gia đình cậu bắt đầu tìm kiếm người có thể hy sinh cho cậu đôi tai. Riêng chàng trai trong lòng khấp khởi hy vọng.

Đã hai năm trôi qua mà không có kết quả gì. Cho đến một hôm, cha cậu bảo:

- Con chuẩn bị đến bệnh viện làm phẫu thuật. Bố mẹ đã tìm được người hiến tai cho con rồi. Nhưng người ấy bắt phải giữ bí mật.

Cuộc phẫu thuật thành công tốt đẹp, và cuộc đời cậu thay đổi từ đó. Cậu như có thêm sức mạnh và lòng tự tin. Tài năng của cậu đạt đến đỉnh cao, vinh quang của cậu nối tiếp từ trường phổ thông đến khi cậu học đại học. Sau đó, cậu lập gia đình và bước vào lĩnh vực ngoại giao.

- Con cần phải biết chứ! - Cậu thúc ép cha. - Con cần biết ai đã cho con quá nhiều như thế? Nếu không, con sẽ không thể đền đáp đủ công ơn cho người ta.

- Cha không nghĩ rằng con có thể đền đáp được cho người đó đâu... nhưng con vẫn chưa được biết, con ạ.

Nhiều năm nữa lại trôi qua, bí mật sâu kín đó vẫn chưa hề hé mở.

Rồi cái ngày người con trai mong mỏi cũng đến. Đó là một trong những ngày tối tăm nhất trong cuộc đời cậu. Ngồi cạnh cha bên thi hài của mẹ, cậu thấy ông nhẹ nhàng đưa tay ra từ từ nâng mái tóc nâu đỏ dày của bà lên: bà đã không còn đôi tai.

- Mẹ con nói rằng bà rất vui nếu để tóc dài. - Người cha thì thầm - Mẹ con để tóc như vậy cũng đâu có xấu đi chút nào, đúng không con?

Người cha đã nói đúng. Vẻ đẹp thật sự của con người không nằm ở bề ngoài mà là ngay trong chính trái tim của họ. Điều thật sự đáng giá không phải ở những gì ta có thể nhìn thấy mà là ở những điều vô hình. Tình yêu thật sự không nằm trong những gì được thể hiện và được biết đến, mà chính ở những điều làm được mà không ai biết đến.

FIRST NEWS

Cập nhật : 28/08/08

 

Khoảng lặng

Tình cờ gặp lại em trong đợt đi công tác từ thiện ở quận Gò Vấp (TP.HCM), tôi như tìm lại đôi mắt và nụ cười đã theo tôi gần hết đời người…

Ngày đó, tôi tình cờ quen em khi em vừa chân ướt chân ráo lên thành phố tìm chỗ trọ học gần nhà tôi. Ấn tượng đầu tiên của tôi về em là đôi mắt rất đẹp, trong sáng và long lanh chứa một trời hi vọng. Em hi vọng sau khi tốt nghiệp văn khoa sẽ về lại quê mình để truyền đạt những kiến thức văn học sâu rộng cho học sinh nghèo nơi đây. Còn tôi lúc đó là một cậu sinh viên năm 2 Đại học Luật, đẹp trai, con một gia đình bề thế ở thành phố.

Trong hai năm yêu nhau, chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm đẹp và đã mơ ước đến một gia đình đầm ấm với những đứa con được sinh ra từ hạnh phúc sau khi hai đứa tốt nghiệp ra trường.

Thế nhưng, gia đình tôi đã không đồng ý ngay từ khi tôi dẫn em về giới thiệu. Gia đình phản đối kịch liệt vì em là một cô gái nông thôn, sinh ra trong gia đình nông dân. Họ đã nhắm cho tôi một chỗ môn đăng hộ đối sau khi tôi tốt nghiệp và không muốn em trở thành rào cản trên bước đường tương lai của tôi.

Để ngăn cản, gia đình âm thầm làm thủ tục đưa tôi ra nước ngoài tiếp tục việc học. Khi tôi biết được sự việc thì chỉ mọi thứ đã trễ. Em an ủi và khuyên tôi nên làm đẹp lòng ba mẹ, cũng như em sẽ chờ tôi trở về.

Nhưng cuối cùng tôi không làm được điều mình hứa. Thời gian đầu chúng tôi giữ liên lạc với nhau và qua trang thư mọi khoảng cách về địa lý dường như không còn tồn tại. Nhưng một năm sau em bỗng nhiên bặt vô âm tín, bao nhiêu thư từ tôi gửi em đều bị trả lại vì không người nhận. Tôi gần như tuyệt vọng và cố tìm mọi cách để biết tin em, nhưng tất cả đều vô vọng. Tôi mất hẳn liên lạc với em!

Sau đó, gia đình tôi cho biết em không đợi đến ngày ra trường mà đã nghỉ học và lên xe hoa với một công tử hào hoa không kém gì tôi. Tôi đã hận em đã nhẫn tâm cướp đi hạnh phúc do chính em mang lại cho tôi. Suy nghĩ ấy làm tôi cố lao vào học để quyết tâm trả thù của mình.

Về nước, tôi lấy vợ theo sự sắp đặt của gia đình và hài lòng với sự thành đạt của mình trong xã hội. Song, tôi luôn tìm kiếm em vì muốn thấy em phải hối tiếc khi đã rời bỏ tôi.

Bao năm trôi qua, mái đầu xanh đã bắt đầu nhuốm bạc nhưng tôi vẫn hận em. Nhưng càng hận bao nhiêu thì tôi biết mình vẫn còn yêu em bấy nhiêu. Không biết bao đêm tôi đã không ngủ được vì nhớ đôi mắt ngày ấy?

Mãi đến sau này trước khi mất mẹ tôi mới nói ra sự thật: khi biết tôi và em vẫn còn liên lạc với nhau, mẹ tôi đã tìm đến em. Sau buổi nói chuyện đó, vì lời hứa với bà và vì tương lai của tôi, em đã quyết định âm thầm rời khỏi cuộc đời tôi!

...Hình như ông trời đã sắp đặt tôi gặp lại em khi chúng tôi cùng đi làm công tác xã hội. Cuối buổi làm việc tôi nán lại gặp riêng em. Hai đứa dạo bước trong khuôn viên của viện mồ côi. Em không nói nhiều về mình, chỉ kể về những mảnh đời bất hạnh của các em trong  viện cô nhi này.

Thì ra trong khi tôi tìm kiếm em thì em vẫn ở ngay sát tôi trong thành phố này. Trong khi tôi tự mãn về gia đình, về địa vị của mình và hận em thì em lại âm thầm gửi cả cuộc đời để chăm lo những mảnh đời bất hạnh. Mái ấm của em là viện cô nhi và hạnh phúc của em là đem lại niềm vui cho các em nhỏ nơi đây.

Gặp lại nhau khi hai mái đầu đã bạc. Trước em, tôi cảm thấy mình quá ích kỷ và nhỏ bé. Xin hãy thứ tha và cho tôi một khoảng lặng để giữ mãi hình ảnh em trong suốt phần đời còn lại của mình!

T.

Cập nhật : 18/07/08

 

Người tốt

Tôi và Nam thân nhau từ nhỏ, cho đến một ngày nó trở thành "người tốt" thì tình bạn của chúng tôi cũng bắt đầu nhạt phai.

Hôm ấy tôi và Nam đi học về, trên đường đi nó lượm được cái ví của ai đó đánh rơi. Chúng tôi mở ra thì thấy giấy tờ và số tiền khoảng năm trăm ngàn đồng. Nhìn những giấy tờ trong ví, tôi biết người này chắc giàu có và có địa vị trong xã hội lắm. Tôi bảo Nam đem lại đồn công an nộp để ai đó mất sẽ được nhận lại. Nam đồng ý nhưng nó đòi lấy số tiền trong đó còn giấy tờ thì trả lại. Tôi bảo làm vậy kỳ lắm. Nó nói người ta giàu có thế này thì mấy trăm ngàn có nghĩa lý gì, cái họ cần là những giấy tờ này.

Tôi can ngăn mãi nhưng không được, cuối cùng tôi mặc kệ nó muốn làm gì thì làm vì nó là người nhặt được cái ví. Sau đó nó lấy tiền ra và đến đồn công an nói rằng nó nhặt được cái ví ai vứt xuống ruộng có các giấy tờ như thế này.

Khoảng một tuần sau có người đến nhận lại cái ví và còn đến nhà nó hậu tạ một triệu đồng vì những giấy tờ này cực kỳ quan trọng, nó còn được nhà trường trao giấy khen "người tốt - việc tốt". Nó hớn hở lên nhận giấy khen trong buổi chào cờ. Còn tôi thấy lòng mình trống rỗng khi mất đi một người bạn.  

VĂN THY HOÀNG
(Hội An, Quảng Nam)

Cập nhật : 20/06/08

 

 

Chị tôi

TTO - Má tôi mất khi mấy chị em tôi còn rất nhỏ. Ba tôi đau ốm triền miên không làm được việc nặng nhọc. Chị Hai tôi mới 17 tuổi đã phải thay mẹ gồng gánh nuôi ba và đàn em dại. Thân con gái mà chị làm quần quật như sức vóc đàn ông, không từ việc gì dù nặng nhọc, miễn là có thể biến thành gạo, thành tiền.

 

Năm đó, chị bắt chước người ta nuôi tôm, không có kinh nghiệm, rốt cuộc thiếu nợ một cây vàng. Nhà nghèo, một cây vàng là cả gia tài. Chủ nợ thấy chị xinh đẹp giỏi giang, xin cưới chị về làm dâu sẽ xóa nợ cũ. Nếu không gả chị, ba phải bán mất công đất, các em phải nghỉ học. Vì ba, vì các em, chị gạt nước mắt theo chồng khi mới 21 tuổi. Ngày chị theo chồng, không bông cưới, không vòng vàng đeo tay, chỉ một bữa tiệc đơn sơ nghẹn ngào nước mắt. Ba tôi thương con gái sớm chịu nhiều vất vả, cũng đành an ủi: “Ở nơi giàu sang cho đời con sung sướng”.

Chị về nhà chồng, mấy năm liền nhà chồng làm ăn thất bại. Cả họ hàng nhà chồng ghét chị. Anh rể lại hay nhậu nhẹt say xỉn, đánh chửi chị, đổ cho chị đem vận rủi về nhà. Chị Hai tôi ngậm đắng nuốt cay không một lời óan than. Một mình chị bươn chải nuôi con, thỉnh thoảng tích góp được chút tiền lại mang về giúp ba nuôi em. Chị chơi vơi, ngược xuôi giữa trách nhiệm làm con, làm chị, làm vợ, làm mẹ…, trách nhiệm nào cũng lớn lao, oằn nặng trên vai chị gầy gò. Thấy chị khổ, ba tôi bắt chị bỏ chồng, mang hai con về nhà. Chị khóc: “Nhà mình nghèo, làm sao cưu mang được gánh nặng của con”.

Năm đó ba tôi đau thận, chị Hai tôi túc trực bên cạnh ngày đêm chăm sóc không lúc nào rời. Chị tôi lòng hiếu thảo có thừa nhưng tiền lại thiếu, chạy vạy khắp nơi cũng không đủ tiền chữa trị cho bà dù đã bán gần hết ruộng vườn, đành bất lực nhìn ba gầy mòn vì bệnh tật. Ba tôi giờ phút lâm chung đã cầm lấy tay chị nghẹn ngào gửi gắm ba đứa em bé dại. Mấy chị em tôi đứng xung quanh giường ba, đứa nào cũng khóc nức nở thương ba, thương chị. Ba tôi mất cũng là lúc chị Hai tôi quyết định bỏ chồng, ôm con về nhà nuôi ba đứa em mồ côi còn đang tuổi ăn, tuổi lớn.

Sáu miệng ăn trông cậy vào một tay chị bươn chải tảo tần. Vừa làm ruộng, vừa buôn bán. Làm ngày chưa đủ, ban đêm chị tôi còn thêu gối, móc màn cửa… Hồi nhỏ, chúng tôi vẫn thường tự hỏi không biết chị Hai có ngủ không. Vì nửa đêm thức giấc lúc nào cũng thấy chị cặm cụi bên ngọn đèn dầu. Nhìn chị đeo cặp kính lão, xỏ trật tới trật lui hồi lâu mới xong cây kim, tôi nghẹn ngào thương chị. Chúng tôi bảo nhau ráng học hành, nhất định phải thành đạt để không phụ  lòng chị.

Ngày tôi đậu đại học cả nhà vỡ òa trong niềm vui. Những nếp nhăn trên khuôn mặt chị tôi dường như tan chảy. Chị cười sung sướng nhưng mắt lại trào lệ. Tôi biết từ nay gánh nặng sẽ càng oằn trên vai chị, chị sẽ cực khổ hơn, đêm thức khuya hơn. Cái bóng gầy gò của chị bên ngọn đèn khuya in sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt những đoạn đường gian khó, để nhắc nhở mình phải luôn luôn cố gắng. Mỗi lần gặp khó khăn, vấp ngã, tôi lại nhớ đến đôi mắt trũng sâu và khuôn mặt in dấu những nhọc nhằn của chị luôn tỏa sáng trong ánh đèn đêm. Tôi cảm thấy xấu hổ, thấy mình thật yếu hèn không xứng đáng với sự hi vinh của chị và tôi lại có thêm can đảm đi tiếp đoạn đường còn lại.

Từ đôi tay chai sần đầy ắp tình thương của chị, ba đứa em đều thành đạt, có công việc làm ổn định, còn thay chị nuôi cháu ăn học nên người. Chúng tôi đứa nào cũng thương chị, muốn trả hiếu cho chị, đòi rước chị về nuôi. Nhưng chị tôi nhất định không rời khỏi căn nhà cũ, nơi mấy chị em tôi đã chào đời và chứng kiến ba má lần lượt ra đi: “Còn mồ mả ba má ở đây, chị bỏ đi sao đành”.

Niềm vui của chúng tôi bây giờ là dắt các con về tụ họp dưới mái nhà xưa, cùng trồng rau, tưới cây với chị, được ăn bữa cơm chị nấu…để thấy mình còn bé dại như ngày nào, được chị yêu thương, chăm sóc. Tôi vẫn thường nói với con trai: “Không có má Hai sẽ không có mẹ như bây giờ”.

NGÔ TUYẾT NGA (Đồng Tháp)

Cập nhật : 19/04/08

 

 

 

Trang 1, 2 , 3, 4

 

 

 

 

 

 

DÀNH CHO QUẢNG CÁO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HANGER

Thiet ke web